THƯỢNG LÂM – THUNG LŨNG HUYỀN THOẠI

Thứ ba, ngày 22-03-2022, 11:23
Từ thị trấn Nà Hang duyên dáng soi mình bên sông Gâm, theo con đường bộ chừng ba mươi cây số, vượt qua xã Năng Khả là đến đất Thượng Lâm (1). Nếu đi theo đường thủy từ thị trấn Nà Hang, ngồi trên thuyền bình thản nhìn để đôi mắt được tận hưởng những đám hoa vàng, hoa đỏ lẫn vào rừng xanh ngút ngàn. Cập vào bến Nà Tông, lên bờ và ngồi trên chiếc xe ngựa kéo, thong dong dọc theo bản nhỏ với những ngôi nhà sàn của người Tày là vào đến thung lũng

Khi xưa, vào đây là con đường mòn quanh co theo những triền đá. Con đường nhỏ màu nâu đỏ ngoằn ngoèo như chiếc roi ngựa đang vung vẩy, lúc ẩn lúc hiện giữa màu xanh của núi rừng đại ngàn. Trên vách đá những cây xanh nghiêng mình nhô ra như vành mũ, che khuất cả con đường nhỏ bên dưới. Thong thả từng bước một, từ dưới chân lên đến đỉnh đèo, bên phải là vách đá cao chạy dọc theo suốt con đèo. Phía trái là con vực sâu hút nằm kẹp giữa hai vách núi đá vôi xám trắng. Cả bọn đang mải mê xuýt xoa, nhìn ngắm những cây cổ thụ trổ ra những bông hoa tím trắng, mấy đứa con gái nhảy cẫng vui sướng lên vì lần đầu được nhìn tận mắt những đoá hoa rừng nở trên những cây cao khổng lồ. Từ trên dốc núi có hai người đàn ông một già, một trẻ đi xuống, trên lưng mỗi người đều có một địu rau xanh. Chúng tôi mừng rỡ đến gần:

- Chào bác, đây có phải là thung lũng Thượng Lâm không ạ? Hải Hiền bước đến gần hỏi.

- Cũng gần đến rồi, các cháu vừa từ xa tới hả? Bác thong thả hỏi lại.

- Vâng, cháu là Huyền My ạ. Chúng cháu ở dưới thành phố, ngày nghỉ nên rủ nhau lên đây để tham quan thung lũng bác ạ - Tôi nhanh nhảu trả lời và hỏi: bác tên là gì ạ, nhà bác ở chỗ nào vậy? 

- Bác cười hiền - bác là Chẩu Văn Thuỵ, nhà ở dưới kia, nói rồi bác chỉ tay, còn đây là Đèo Nàng, phía trước mặt kia mới là thung lũng cháu ạ. Bác lại vỗ vai đứa cháu - đây là Ma Văn Võ cháu ngoại bác, hôm nay nghỉ học nên bác cho lên thăm nương.

- Sao lại gọi là Đèo Nàng hở bác? Thuỳ Hương rụt rè hỏi. Nhìn đứa cháu gái xinh xắn lộ vẻ tò mò, bác Thuỵ nói giọng nhẩn nha: đây và vùng quê có nhiều câu chuyện lạ và dài lắm các cháu ạ.

- Bác vỗ vai em Võ rồi bảo, cháu kể cho các anh nghe đi.

- Võ dạ một câu rồi nói: đây là vùng đất có nhiều huyền thoại, cổ xưa và trù phú, một vùng đất thấm đẫm những sự tích huyền ảo đấy các anh, chị ạ. Nói rồi cậu ta liền áp đôi bàn tay vào vách đá xù xì và ướt lạnh trên đỉnh đèo. Không ai bảo ai, chúng tôi cùng nhau làm theo, rồi cậu kể: “Xưa kia ở vùng Thượng Lâm có nhà Thổ ty giàu lắm, lại sinh được một cô con gái xinh đẹp nghiêng nước nghiêng thành. Không biết bao nhiêu chàng trai trong vùng đến ngỏ lời, Nàng đều từ chối. Bởi Nàng đã nặng lòng yêu chàng trai cùng bản. Hiềm nỗi, chàng là con nhà nghèo khó. Nhà chàng thóc không đầy bồ, ngô không chặt gác nên cha Nàng ngăn cản đủ đường…Ngày cha nhận lời con nhà Lang. Nàng nhịn ăn bảy ngày, bảy đêm. Suốt bảy ngày đêm ấy lúc nào cũng nước mắt Nàng cũng chảy tràn trên má. …Nàng đã bàn với người người yêu cùng nhau đi trốn. Ngày ấy họ hẹn nhau gà gáy lần đầu thì cùng đến chân đèo… Nàng xăm xăm đi về phía chân đèo, sương đêm quyện mồ hôi ướt đầm vai áo. Đến nơi. Nàng ngồi nghỉ dưới gốc cây sấu đợi chàng. Càng đợi càng chẳng thấy đâu… thì ra cha Nàng cho gia nhân theo dõi, khi Nàng ra khỏi nhà, họ đã đi theo. Chàng trai bị nọc ra đánh đòn...

Để cứu người yêu thoát khỏi cảnh đòn roi, Nàng đành phải nghe theo. Đám cưới dâu nhà Lang, ngựa hàng đàn, người người mặc đẹp như đi hội, đàn sáo vang lừng. Đoàn đón dâu, tốp đầu lên đến lưng đèo, tốp cuối chưa ra hết khỏi nhà. Gần trưa, đoàn đón dâu bắt đầu qua đèo. Khi lên đến đỉnh, Nàng dừng ngựa ngoảnh mặt nhìn bản làng, con mắt đăm đắm sâu thẳm… Con ngựa chồm lên mang theo cả Nàng lao xuống vực… Từ đấy, không ai bảo ai, mọi người đều gọi đó là đèo Nàng”. (2)

Từ trong vách đá thấm ra những giọt nước trong suốt, mát lạnh như những hạt nước mắt của người con gái thuỷ chung, xinh đẹp trong câu chuyện cổ. Những hạt nước cứ nhỏ ra từng giọt, từng giọt đều đặn từ thủa khai sinh, lập địa đến tận bây giờ. Ngắt một ngọn lá non xanh bên vệ đường, cuộn tròn, hứng lấy từng hạt nước lóng lánh, ngậm vào trong miệng, rồi xoa lên đầu, lên mặt, cơn khát và cái nóng vì mệt bỗng nhiên tan biến. Và chúng tôi bỗng thấy thấp thoáng hình bóng của Nàng khi thì ẩn mình trong vách đá, lúc lại lấp ló sau những hàng cây cao, rồi lại bồng bềnh theo những đám mây trắng đang quyến luyến bứt khỏi vách núi. Tình yêu của họ đã hoá thành hoa bướm, hoà vào trăng gió, mây trời và cây cỏ... tất cả khiến nơi này cứ lung linh, huyền ảo.

Cả đoàn xuống dưới chân đèo, bước vào đây là bước vào chiếc lòng chảo khổng lồ. Thuở xa xưa, thung lũng này được hình thành sau những chuyển động kiến tạo vật vã cuối cùng của Mẹ trái đất. Xưa kia chỗ này là biển cả, khi vạn vật được nâng lên, hạ xuống, biển xanh đã chuyển thành núi cao, rồi tất cả đều lặng yên cho đến tận bây giờ. Những vách đá sừng sững, trầm mặc hằn lên trên mình từng vệt trầm tích, mỗi vệt là một trang của pho sách đá khổng lồ, lật giở từng trang là đá sẽ kể cho ta nghe về cuộc đời hàng triệu năm sống của mình. Trải qua hàng triệu mùa mưa bão, những lớp vỏ của của dãy núi đá vôi bị bào mòn thành đất, cùng với hàng triệu, hàng ngàn vòng đời của những lớp cây rừng từ trên 99 ngọn núi cao được những trận thác lũ chở về, bồi tụ rồi biến thành thung lũng màu mỡ và trù phú này.

Nhìn từ trên cao, cả thung lũng như một bức tranh khổng lồ mà Mẹ trái đất đã miệt mài thêu dệt. Bức tranh với núi xanh, thác bạc và những cánh đồng khi thì xanh mướt, lúc thì vàng ruộm. Cả khu rừng rực lên với sắc lá đỏ tươi, của hoa, của lá,  những làn gió nhẹ đung đưa làm chúng quyện lại với nhau như màn đồng diễn lớn. Thung lũng này được bao quanh bởi những ngọn núi trùng điệp, dãy núi hùng vĩ như đôi rồng khổng lồ chầu vào cánh đồng mặt nguyệt bằng phẳng. Bức tranh huyền ảo ấy mãi không thôi chuyển động, những sắc màu đan xen ấy càng trở nên kỳ ảo. Từ hàng nghìn năm qua, dù vật đổi, sao dời nhưng ở nơi đây nét hoang sơ, sự trầm mặc và những câu chuyện huyền bí vẫn còn nguyên vẹn. Cứ như vậy, người vẫn nối tiếp người, đời lại nối tiếp đời…

- Thành Long nói vẻ ao ước: nếu bây giờ có cái gì đưa tụi mình lên trên trời, cao hơn cả những ngọn núi kia để ngắm khắp thung lũng thì thích lắm nhỉ.

- Ừ, bây giờ có phép biến hoá làm thân mình nhẹ bẫng đi, rồi treo vào quả bóng bay rồi thả lên trên trời thì tha hồ mà nhìn ngắm nhỉ - tôi phụ hoạ. Tất cả cùng cười ồ vui vẻ, vừa đi vừa ngắm nghía, bàn luận.

Từ dưới thung lũng nhìn ra khắp bốn phía, những đỉnh núi cao, nhọn như những cây măng đang vào mùa nhú ngọn, cả dãy núi nhấp nhô chĩa lên bầu trời, như bức thành lũy vững chãi của thiên nhiên đang bảo vệ vùng đất này. Trên đoạn đường đến điểm dừng chân, sau khi nghe và trả lời rất nhiều câu hỏi của chúng tôi, bác bảo: sắp đến chỗ rẽ về nhà bác rồi, giờ bác sẽ kể cho các cháu một câu chuyện về vùng đất này nhé. Cả bọn phấn khích và lắng nghe. Chuyện kể rằng: “Ngày xửa, ngày xưa, trời đất mới hình thành, ranh giới đất đai của tộc người chưa phân định. Người tốt bụng có, kẻ tham lam độc ác có. Thế nên hay xảy ra đánh nhau, nhiều khi rất thảm khốc. Trời phải cho thần xuống giúp người lương thiện diệt trừ kẻ ác... Năm ấy, dưới hạ giới, nhà Vua cho thần linh giúp sức đã dẹp yên được giặc, bốn cõi thanh bình, xét thấy cố đô chật hẹp, không tiện giao thương, mà việc phòng thủ cũng gặp nhiều khó khăn. Nhà Vua muốn xây dựng kinh đô mới, bèn lập đàn cầu khấn…Thiên Thần mang theo đàn phượng hoàng 100 con lên đường. Một buổi sáng kia, thần và đàn phượng hoàng đến vùng Thượng Lâm. Dân chúng thấy sự lạ bỏ cả việc đang làm đổ ra xem. Trên bầu trời vốn xưa yên tĩnh, nay hàng trăm con chim vỗ cánh ào ào. Đàn phượng hoàng chao lượn ba vòng rồi mỗi con sà xuống đậu trên đỉnh một ngọn núi. Chừng nửa canh giờ, 99 ngọn núi đã có chỗ đậu, còn một con phượng hoàng lượn vòng quanh một ngọn núi. Có lúc phượng hoàng sà xuống rồi lại bay lên mà không đậu, cứ thế đến lần thứ ba thì phượng hoàng bay vút lên không trung…(3). Ở vùng đất Thượng Lâm này, từ lâu lắm, ai đã sinh sống tại nơi đây cũng biết về câu chuyện thần tiên ấy và được lưu truyền cho đến tận ngày nay.

- Chào các cháu nhé, nếu còn ở lâu thì hỏi thăm vào nhà bác chơi - nói rồi bác xốc lại cái địu rau và chia tay chúng tôi. Võ lặng lẽ dúi vào tay Tôi một mẩu gỗ nhỏ giống hình người con gái. Cả bọn bịn rịn chào hai ông cháu rồi tìm về chỗ nghỉ.

Trên đường vào, sát dưới chân núi là thấp thoáng mái cọ của những ngôi nhà sàn, màu mái cũ xen lẫn và ẩn dưới những cây cọ xanh rì. Chiều về, những làn khói mỏng lơ đãng bay lên từ trên những mái nhà sàn. Sát bờ suối là những những chiếc cọn nước. Chiếc cọn gỗ như những chiếc đu quay đeo trên mình những chiếc gáo cứ đều đặn xoay tròn. Cạnh đó là chiếc cối giã gạo, cánh tay gỗ nhấc chiếc chày dập vào những hạt thóc. Những hạt thóc nằm trong chiếc cối gỗ dần trở thành những hạt gạo trắng trong. Vào mỗi buổi sáng sớm những cô gái, hay các chị, các mẹ người Tày lại cõng những địu thóc đổ vào chiếc cối gỗ, gần trưa lại đem địu đến cõng gạo mang về. Âm thanh kẽo kẹt của những chiếc cọn, tiếng nghé con gọi mẹ cùng với tiếng lốc cốc của mõ, tiếng rít kêu đói của những chú lợn con, những tiếng gà xao xác và cả tiếng í ới của những đứa trẻ gọi nhau tắm suối trong những buổi chiều hè. Những âm thanh lúc trầm, lúc bổng đó vang lên, vọng vào vách núi, tất cả cùng hoà quyện, làm bức tranh khổng lồ nơi đây càng trở nên kỳ ảo, như Mẹ thiên nhiên đã kỳ công thêu dệt. Về đến nhà của anh Chẩu Vần Nông thì trời cũng vừa sập tối, đây là ngôi nhà rộng nhất ở làng, nhà có tới 5 gian, 2 chái. Ngôi nhà này hiện lên vẻ đẹp riêng có của người Tày trên vùng đất Thượng Lâm. Máng nước lần róc rách chảy suốt từ mùa đông sang mùa hè, nước từ trong hang chảy ra trong veo và mát lạnh. Những thửa ruộng trải dài từ trước vườn đến tận chân dãy núi Thẳm Trùng, Nà Niểu, Thôm Mooc, sát vào chân núi là dòng suối Nà Ngùa, những ngọn núi cao như những chàng khổng lồ đang giơ vai chở che cho những bản làng đang sinh sống tại thung lũng thơ mộng này. Anh Nông bảo: “Ngôi nhà này được dựng từ thời ông nội anh, các cụ kể lại, ngày xưa rừng mọc sát ra đến bờ ruộng, làm nhà này chỉ cần hạ một cây gỗ là đủ, còn lá cọ thì chỗ nào cũng có, nhưng làm được cái nhà cũng mất đến vài năm, vì phải đón từng tốp thợ ở vùng khác về giúp”.

Cũng giống ngôi nhà sàn này, ở đây những gian nhà của người Tày bao giờ cũng làm lẻ số, đó là những số của người trần, số lẻ sẽ mang đến sự bình yên, khỏe mạnh, may mắn và thuận lợi cho cả gia đình. Bước lên chiếc cầu thang gỗ đơn sơ nhưng chắc chắn, cầu thang giống như chiếc cầu nối giữa đất và trời. Trước khi lên cầu thang phải dùng chiếc gáo tre múc nước để rửa chân. Lần lượt bước qua từng bậc, chín bậc thang tượng trưng cho chín vía của con người.

Giữa gian nhà là bếp lửa, bếp là nơi đón bạn thân tình, là nơi để những người đàn ông bàn bạc những công việc lớn, và cũng là chỗ cả gia đình đoàn tụ, quây quần khi màn đêm buông xuống. Suốt bốn mùa, bếp không bao giờ tắt, lửa luôn cháy như những khát khao tươi đẹp của những đôi trai gái khi vào mùa hội. Mấy gộc củi đỏ rực than lim rim cháy, làn khói trắng mảnh mai đuổi nhau chui qua gác bếp, giờ đã óng vàng lên màu thời gian, khói uốn lượn từng vòng tròn, luồn qua mái lá và toả lên trên nóc nhà. Năm gian nhà sàn thật thênh thang, trên mái nhà, những tàu lá cọ lần lượt xếp thành hàng ngang, hàng dọc đều đặn, cũng giống như vắt tranh trên mái nhà của người miền xuôi. Cánh tay của những tàu lá bị xoắn lại, bẻ quặt và cuốn chặt lấy những chiếc mè ngang bằng tre bị nhuộm vàng khói bếp. Ngồi trên mặt sàn được dát bằng những cây mai già. Mỗi cây như chiếc khăn quàng dài, lần lượt nối nhau từ đầu đến cuối gian nhà như lớp thảm. Cả sàn nhà, lớp da ngoài giờ đã ánh lên lớp màu của thời gian nâu bóng. Mấy chiếc buồng ngủ được ngăn riêng bởi những tấm liếp nứa. Tấm liếp như bức tranh với những ngôi sao tám cánh xen với hình quả trám, như nét hoa văn trên bức vải thổ cẩm của những cô gái Tày. Dưới gầm sàn là chiếc cối xay thóc đan bằng nan tre, nan được khéo léo quấn tròn rồi đắp đất vào lòng. Chiếc cối gỗ giã gạo bằng chân với cánh tay dài thượt, cối chỉ được dùng khi gặp những ngày dài mưa lũ, không giã được bằng cối nước. Mấy chiếc khung cửi dệt thổ cẩm còn dang dở những sợi chỉ màu trắng, đỏ pha lẫn màu chàm. Những ngày nông nhàn các thiếu nữ Tày lại chăm chỉ bên khung cửi, những tiếng lách cách của chiếc khung bằng gỗ chạy lên, chạy xuống theo nhịp chân của cô thiếu nữ Tày. Những bức thổ cẩm chứa đựng những ước mơ tươi đẹp về cuộc sống bình an, no ấm của những cô gái miền sơn cước.

Dưới ánh điện, anh Nông tất bật chuẩn bị bữa tối, trong nhà anh là người trụ cột nhưng cũng là người nấu ăn khéo léo, những khi nhà có khách tới thăm hay và những dịp lễ, tết anh luôn là người đầu bếp chính. Người đàn ông Tày thường có năng khiếu bẩm sinh về nấu nướng, họ đều biết nấu những món ăn truyền thống, hương vị đậm đà của những món ăn từ núi, rừng hoà trộn cùng nước nguồn sông, suối đó cũng là những bí truyền từ đời cha, ông họ đã dành lại cho riêng vùng đất này. Các bà, các chị lại khéo tay làm ra những loại bánh bánh gai, bánh chưng gù, bánh chuối… hay mâm xôi ngũ sắc thơm ngon và đẹp mắt.

Bữa cơm tối được dọn ra, cả chủ lẫn khách quây quần quanh mâm cơm được đan bằng nan tre. Các món ăn đều được đựng trong các miếng lá chuối tươi, trông như bông hoa lớn. Tôi chợt nhận thấy những món rau giống như rau trong địu của bác Thuỵ ban chiều. Những cái chén uống rượu cũng được làm bằng ống nứa nhỏ trông thật mộc mạc và gần gũi. Trong bữa cơm, những câu chuyện truyền thuyết của vùng đất này về núi nàng Tiên - chú Khách, sự tích hoa Phặc Phiền và sự tích ngàm Đăng Vài… được anh Nông kể lại làm mấy đứa tôi cứ chau mày, nhăn trán tưởng tượng.

Lần đầu tiên được ngủ trong căn nhà sàn rộng rãi, trời đêm thật tĩnh lặng, sương đêm len lỏi chui qua tấm liếp vờn trên mặt, bỗng thấy mình như tách biệt khỏi thế giới này. Mấy đứa con gái ôm nhau rì rầm nói chuyện và rinh rích cười đùa một lúc rồi im lặng. Trong giấc ngủ, tôi chập chờn thấy người con gái tên Nàng đang cưỡi ngựa rong ruổi theo những dãy núi, trên tay Nàng tung ra những hạt nhỏ li ti, những hạt đó bám vào những cây to, mắc vào những bụi nhỏ và chúng hoá thành những bông hoa sắc thắm. Và ở phía bên hồ, Tiên cờ Đế Thích vẫn đang mải mê đánh cờ với chàng Ỏi dưới trần gian. Ở dưới chân tháp đá khổng lồ, đàn trâu trời vẫn đang nhẩn nha nhai cỏ bên bờ nước mênh mang xanh ngát.

Đầu xuân, những người Già, Trưởng bản cùng nhau đến chùa Phúc Lâm Cổ Tự nằm dưới chân núi Cổ Rùa để cầu cho bản làng một năm mới an bình. Ngôi chùa linh thiêng này đã xuất hiện khoảng giữa thế kỷ XIII và XIV (dưới thời Trần). Vào dịp đầu năm ngày Lễ Tịch điền và ngày hội Lồng Tông là những ngày hội bao đời của người Tày. Vào những ngày hội, Hát Then đã trở thành phần hồn của người Tày, Then như sợi dây giao thoa giữa con người và trời đất, như chiếc cầu nối người với núi rừng, sông suối. Cây Tính Tẩu dù chỉ cần mang trên mình một sợi dây, dù đàn chỉ cất lên những âm thanh trầm ấm nhưng chân thật, giống như tấm lòng của người miền núi. Khi tiếng Then cất lên được hoà cùng điệu múa trầu, quyện với tiếng lanh canh của chùm chuông nhỏ trên ngón tay khéo léo của những Nàng Then. Hình như Tính Tẩu được sinh ra chỉ dành để cho Hát Then mà thôi. Tiếng Tính, tiếng Then và điệu múa Trầu có sức cuốn hút lạ kỳ. Cảm giác lạ kỳ ấy giống như người đi săn bị đám gai rừng cào, xước khắp thân thể. Tiếng đàn, tiếng hát và điệu múa ấy như ngọn cây thuốc rừng, khi vừa nhai dập lá bỗng cơn đau dần tan biến, cái cảm giác bị cào xước ấy đã lành trở lại, và tiếng Then trầm, bổng ấy như đưa ta trôi vào vùng hư ảo. Mỗi lần nghe điệu Then, cái cảm giác ấy cứ lặp đi, lặp lại, dường như ta đã bị tiếng Then chiếm lấy tâm hồn.

Tác giả: Lê Quốc Thu – Thượng Lâm tháng 02 năm 2022

(1) xã Thượng Lâm, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang

(2) Nguồn: Truyện cổ Nà Hang, tác giả Phù Ninh, nhà xuất bản Văn hoá dân tộc

(3) Nguồn: Lý lịch danh lam thắng cảnh Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang.

Lê Thu - Phó Trưởng Ban Quản lý các khu du lịch tỉnh Tuyên Quang